Một số ngày lễ, kỷ niệm tháng 12
17:23 - 06/12/2018

Sự ra đời Hội Cựu chiến binh Việt Nam (06/12)

Xuất phát từ tình hình, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới và đáp ứng nguyện vọng thiết tha, chính đáng của đông đảo cựu chiến binh Việt Nam, ngày 06/12/1989, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá VI) quyết định cho thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Mục đích của Hội đ­ược xác định là: Đoàn kết cựu chiến binh, giữ gìn và phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của hội viên, giúp đỡ lẫn nhau về tinh thần và vật chất, gắn bó tình bạn chiến đấu.

Ngày 08/01/2002, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 09 về “Tăng c­ường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh trong giai đoạn cách mạng mới”. Ngày 18/10/2005, Chủ tịch nư­ớc công bố Pháp lệnh cựu chiến binh đã đ­ược Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI) thông qua, nhằm thể chế hoá Nghị quyết của Đảng về cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho Hội Cựu chiến binh hoạt động và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Những quyết định của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý cho Hội Cựu chiến binh Việt Nam hoạt động, không ngừng lớn mạnh.

Nhìn lại 29 năm xây dựng Hội Cựu chiến binh Việt Nam cho thấy sự phát triển và trưởng thành của Hội Cựu chiến binh Việt Nam gắn liền với các sự kiện trọng đại của đất nước, gắn liền với sự quan tâm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với Hội.

Ngày Nhân quyền thế giới (10/12)

Ngày 10/12/1948, tại Thủ đô Paris của nước Cộng hòa Pháp, Đại hội đồng Liên Hợp quốc (LHQ) đã chính thức thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (Tuyên ngôn nhân quyền). Gần 70 năm qua, Bản Tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả vẫn còn nguyên giá trị, đã và đang là mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại. LHQ đã lấy chính ngày thông qua Tuyên ngôn này làm Ngày Nhân quyền thế giới.

Nhân quyền là phạm trù lịch sử gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, giải phóng con người qua các hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp, qua đó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Những tiến bộ trong việc thực hiện nhân quyền là thành quả đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống đế quốc, thực dân và của nhân dân lao động chống sự bóc lột của chế độ thống trị. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhất là những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, nhân quyền là vấn đề thu hút sự quan tâm của các quốc gia và các tổ chức quốc tế do sự phát triển nhận thức về quyền con người và sự lợi dụng nhân quyền để thực hiện mưu đồ riêng.

Qua quá trình phát triển, các văn bản pháp lý quốc tế về nhân quyền đã ra đời, đánh dấu về nhận thức và sự tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền. Hiến chương LHQ đã dành nhiều đoạn, mục khẳng định mục tiêu, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của LHQ trong việc bảo vệ và thúc đẩy tôn trọng các quyền và quyền tự do cơ bản của con người. Hiến chương LHQ và Tuyên ngôn Nhân quyền là hai văn kiện quốc tế quan trọng đầu tiên về nhân quyền. Trong đó, Tuyên ngôn Nhân quyền do LHQ thông qua ngày 10/12/1948 được đánh giá là một trong những thành tựu lớn của LHQ và có ý nghĩa lịch sử vì đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và dân tộc về các quyền con người và như đã nói ở trên được lấy làm Ngày Nhân quyền được LHQ kỷ niệm hàng năm. Từ đó, quyền con người được pháp điển hoá trong một số Công ước quốc tế về nhân quyền; trong đó, quan trọng nhất là hai Công ước ra đời năm 1966: Công ước về các quyền Dân sự và Chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội. Lần đầu tiên “quyền tự quyết của các dân tộc kể cả quyền được tự do sử dụng của cải và nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình” được đảm bảo trong 2 Công ước nêu trên mà trước đây không được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh vì quyền tự quyết của tất cả các dân tộc. Việt Nam đã ký kết và gia nhập các Công ước quốc tế về nhân quyền, trong đó có hai Công ước cơ bản nói trên vào ngày 24/9/1982.   

Hiện nay, nhân quyền đã và đang trở thành một nhân tố không kém phần quan trọng trong các chương trình nghị sự và văn kiện của các hội nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế và khu vực cũng như các hiệp định song phương, đa phương. Nhân quyền trong quan hệ quốc tế thể hiện xu thế chung là vừa hợp tác, vừa đấu tranh giữa các nước và các tổ chức quốc tế, với lợi ích đan xen giữa kinh tế và chính trị,... Tại các diễn đàn đa phương, vấn đề nhân quyền tiếp tục bị lợi dụng và bị chính trị hoá. Trong khuôn khổ LHQ, các nước phương Tây tìm mọi cách tăng cường tính chất cưỡng chế và ràng buộc của các cơ chế nhân quyền. Các nước khác, nhất là đại đa số các nước châu Á luôn đi đầu trong đấu tranh chống áp đặt và can thiệp của phương Tây.

Riêng tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn xác định quyền con người là giá trị chung của nhân loại; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững. Theo đó, những tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố và phát triển, đời sống của người dân ngày càng thay đổi và được nâng cao. Những thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam được cộng đồng quốc tế thừa nhận và được coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia khác noi theo. Những quyền cơ bản của người dân đang ngày càng được pháp luật bảo đảm, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và những cam kết mà Việt Nam tham gia với tư cách là thành viên quốc tế và khu vực. Với việc thông qua Hiến pháp năm 2013, trong đó giành toàn bộ Chương II quy định việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân; ban hành mới nhiều luật như: Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Tố cáo, Luật Công đoàn, Luật Khiếu nại, Luật Luật sư, Luật Phòng, chống mua bán người,… đã giúp hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý về quyền con người ở Việt Nam, nhằm thực hiện tốt hơn quyền con người trên thực tế.

Với những thành tựu và uy tín của mình nên Việt Nam đã trúng cử làm thành viên Hội đồng nhân quyền với số phiếu cao nhất. Sau gần năm tháng kể từ khi Việt Nam bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) của Hội đồng nhân quyền LHQ khóa 26, ngày 20/6/2014, Hội đồng nhân quyền tại Geneva (Thuỵ Sĩ) đã chính thức thông qua Báo cáo UPR chu kỳ 2 của Việt Nam. Việc bảo vệ thành công Báo cáo UPR chu kỳ II chứng tỏ Việt Nam đã có những chủ trương đúng đắn, bước đi thuyết phục làm cho thế giới hiểu về quan điểm nhân quyền của mình với những thành tựu được cộng đồng quốc tế thừa nhận và rằng Việt Nam có quyền tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa,… theo Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của LHQ. Đó cũng chính là câu trả lời rõ ràng cho những tổ chức, cá nhân vẫn ấp ủ âm mưu lợi dụng nhân quyền chống lại Việt Nam.

Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12)


Ngày 22/12/1944 tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng),
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức làm lễ thành lập. Ảnh: Tư liệu.


Tiếp bước truyền thống.  Trong ảnh: Chiến sĩ  Đại đội Trinh sát Phòng Tham mưu
Bộ Chỉ huy Quân sự TP Cần Thơ
tập luyện kỹ thuật khắc phục vật cản. Ảnh: Phạm Trung.

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã để lại một chân lý, một quy luật, một truyền thống vẻ vang là dựng nước phải đi đôi với giữ nước, xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc. Ngày hội Quốc phòng toàn dân 22 tháng 12 hàng năm cũng là dịp biểu dương sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và quyết tâm của nhân dân ta bảo vệ vững chắc non sông gấm vóc thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngược dòng lịch sử 74 năm trước đây, ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, đã chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là một mốc son chói lọi đã đi vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân là tiền thân của một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Đó là quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn gắn bó máu thịt, “đồng cam, cộng khổ” với nhân dân. Một quân đội kiểu mới không ngừng lớn mạnh, đã đánh thắng hai cường quốc thực dân, đế quốc xâm lược là Pháp và Mỹ, giành lại nền độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và luôn thủy chung với bạn bè quốc tế. 

Từ trong những tháng năm khói lửa của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vĩ đại, một tập quán mới và tốt đẹp đã nảy nở, phát triển, trở thành sinh hoạt bình dị nhưng rất sâu nặng nghĩa tình, đó là những ngày hội đoàn kết quân dân, vun đắp tình quân dân cá - nước. Trải qua chặng đường 74 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, mỗi chiến công, mỗi bước phát triển theo phương hướng chính quy, hiện đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đều gắn liền với sự tin yêu đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng của nhân dân. Nhân dân chính là cội nguồn tạo nên sức mạnh vô tận để quân đội ta luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân và có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao truyền thống, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, vượt qua mọi khó khăn thử thách, quyết chiến và quyết thắng, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược hung hãn của thời đại. 

Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, bối cảnh tình hình thế giới có những diễn biến rất phức tạp. Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng mưu toan xóa bỏ mọi thành quả cách mạng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn. Tình hình kinh tế - xã hội đất nước vẫn đang trong tình trạng khủng hoảng, kém phát triển; đời sống của phần lớn nhân dân gặp muôn vàn khó khăn. Trước tình hình thực tiễn đó, Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) đã họp bàn và quyết định các biện pháp nhằm nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, sẵn sàng bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt đối với thế hệ trẻ Việt Nam. Chấp nhận đề nghị của Đảng ủy Quân sự Trung ương, ngày 17/10/1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI đã ra Chỉ thị số 381-CV/TW, lấy ngày 22 tháng 12 - Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, là “Ngày hội Quốc phòng toàn dân”. 

Ngày 22/12/1989, lần đầu tiên “Ngày hội Quốc phòng toàn dân” được tổ chức trọng thể tại tất cả các địa phương trong cả nước. Kể từ đó đến nay, ngày 22 tháng 12 hàng năm đã thực sự trở thành ngày hội lớn của toàn dân tộc với các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam và hình ảnh, phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”; giáo dục nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; cổ vũ, động viên mọi công dân và các tổ chức cùng chung sức, đồng lòng chăm lo xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã có rất nhiều hoạt động sinh động, phong phú, sáng tạo để kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày hội Quốc phòng toàn dân, như mít-tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, tổ chức gặp mặt, thăm hỏi động viên các cựu chiến binh, thanh niên xung phong, các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh; thăm các đơn vị quân đội; biểu diễn văn nghệ, đại hội thanh niên, thi đấu thể thao, hội thao quân sự,... Đó thực sự là ngày hội phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, ngày hội tôn vinh và nhân lên hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, một nét độc đáo của truyền thống văn hóa giữ nước của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.

Thông qua Ngày hội Quốc phòng toàn dân, tinh thần cảnh giác của các tầng lớp nhân dân trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta được nâng lên rõ rệt. Công tác tuyển chọn và động viên thanh niên hăng hái tham gia nhập ngũ, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, được các địa phương, đơn vị tổ chức như một ngày hội phát huy truyền thống giữ nước của dân tộc. Hệ thống thông tin đại chúng từ Trung ương đến địa phương, cơ sở luôn đổi mới công tác tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến rộng rãi kết quả và những kinh nghiệm tốt của các địa phương, các ngành và đoàn thể trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, xây dựng quân đội, tạo sự đồng thuận xã hội ở từng địa phương, cơ sở.

Hiện nay, tình hình thế giới còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Chiến tranh thế giới tuy ít có khả năng xảy ra, song những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều khu vực với tính chất phức tạp ngày càng gia tăng. Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang có sự phát triển năng động, nhưng cũng tiềm ẩn không ít nhân tố gây mất ổn định. Đáng chú ý, trên thế giới và khu vực xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích chiến lược mới; sự tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo ngày càng trở nên gay gắt. Vấn đề an ninh sinh tồn và an ninh phát triển đang đặt ra cho chúng ta bài toán phải giải quyết một cách hài hòa, hữu hiệu. Những nguy cơ đối với đất nước mà Đảng ta đã chỉ ra, đến nay vẫn là những thách thức lớn. Đặc biệt, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) chỉ rõ, nếu chúng ta không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh kịp thời, hiệu quả, sẽ trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa, đến việc giữ vững các thành quả cách mạng. Vì vậy, “Ngày hội Quốc phòng toàn dân” càng trở nên có ý nghĩa rộng lớn, sâu sắc và có tầm quan trọng chiến lược đối với việc phát huy truyền thống yêu nước và thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới cho mọi người dân Việt Nam. 

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cùng với việc nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao phù hợp với sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam và thế giới, quân đội luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, tích cực tuyên truyền vận động nhân dân, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, để họ có nhận thức đúng và thực hiện tốt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia thực hiện tốt phong trào xây dựng nông thôn mới, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, phòng, chống dịch bệnh, chữa bệnh, phòng, chống cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai... Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các đoàn thể, các ngành, các cấp làm tốt công tác vận động quần chúng trên từng địa bàn tham gia tích cực xây dựng, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh; phối hợp cùng lực lượng Công an nhân dân để giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.

Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, tự hào với những thành tựu mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách và đạt được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hơn 30 năm đổi mới đất nước, mỗi người dân Việt Nam, dù ở trong nước hay đang công tác, làm ăn sinh sống, định cư ở nước ngoài, hãy cùng hướng về Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, cũng đồng thời là Ngày hội Quốc phòng toàn dân, bằng tất cả tình cảm và hành động yêu nước thiết thực, ý nghĩa. Đó thực sự là ngày hội phát huy truyền thống yêu nước và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngày hội của niềm tự hào, kiêu hãnh của mỗi “con Lạc, cháu Rồng” đối với cội nguồn dân tộc, đối với truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, truyền thống 74 năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và 29 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

BBT

(Tổng hợp từ đề cương tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Trung ương,
website Ban Tôn giáo Chính phủ, Tạp chí cộng sản)

13