Truyện ngắn: Như mơ
10:23 - 13/05/2020

Cậu Út có cái bóp da bò lâu năm, lên nước bóng loáng như đồ cổ. Đi đâu cậu cũng kè kè mang bên mình. Một bữa đội lúa qua kinh, ngó phía đầu cầu khỉ thấy có con rắn lục đuôi đỏ cuộn mình quấn cây tre, cậu quăng mớ lúa sang bên, nhảy ùm xuống kinh ướt như chuột lột. Thấy cảnh đó, mấy thợ gặt cười: “Đến độ vậy mà tay vẫn cầm khư khư cái bóp giơ lên, như trong đó chứa bạc tỉ”. Cậu đáp một câu chắc nịch: “Hơn một tỉ!”. Những thợ gặt thấy vậy mới xúm nhau bày trò chọc cậu.

Một bữa trời không trăng, cậu ra ruộng thăm câu. Bóng dáng ốm nhom dưới ánh đèn pin lắc lư lúc sáng lúc mờ. Tiếng cậu ho khàn khàn nhập vào tiếng ếch nhái vang xa trên ruộng. Mấy thợ gặt thủ sẵn ở con đường cậu hay đi ngang, đoán chắc rằng thể nào khi ngang đống rơm cậu cũng dừng lại hóng gió. Y như rằng, cậu vừa dừng lại thì bị đè nằm sấp xuống đê. Chưa kịp la làng thì đám người kia buông cậu ra, chạy mất. Cậu hú vía ngồi dậy vuốt mặt mấy lần: “Cướp gì kỳ khôi vậy!”. Cậu rờ tay, hai khâu vàng vẫn còn y thinh, mừng ghê gớm. Nỗi mừng vừa dậy lên thì mặt cậu méo xẹo, cậu tìm quanh eo rồi khắp bộ đồ. Lấy đèn pin rọi tứ phía tìm nhưng vẫn không thể nào thấy được. Cái kim tây móc túi áo bà ba rách ra một mảng, mất cái bóp rồi!

Cậu thất thần về nhà. Má kêu trời: “Sao quần áo mầy tèm lem vậy Út?”. Cậu nói như không có chút cảm xúc nào: “Cướp nó vật em, lấy cái bóp”. Má hoảng hồn coi cậu có sao không. Cậu lắc đầu, không bị thương, nhưng nhìn mặt thì thấy rõ nỗi mất của cậu to bằng cả gia tài…

Cậu nói, trong bóp chỉ có mấy đồng lẻ thôi, đủ uống ly cà phê xây chừng chứ gì. Cũng không có giấy tờ gì cả. Má thở ra, giữ được thân lành lặn là may rồi. Giọng cậu ngậm ngùi: “Có những thứ mất đi không bao giờ tìm lại được đâu chị à!”. 

Trằn trọc suốt đêm, sáng ra trước sân không thèm thể dục, đang rầu rĩ thì cậu thấy cái bóp nằm vất vưởng trên sân. Nhanh chân chạy ra lượm và lục lọi xem thì vẫn y nguyên, không sót thứ gì, kể cả mấy đồng bạc lẻ. Cậu mừng như chết đi sống lại chạy vào nhà khoe với má. Má nói, đâu em đưa chị coi? Cậu lùi lại mấy bước, thôi có gì đâu coi chị! 

Hai hôm sau má nghe xóm thợ gặt xôn xao chuyện cậu giấu tấm hình người con gái lạ trong bóp với lời hẹn ước viết sau lưng ảnh. Má mừng húm chạy về nhà hỏi cậu cho ra lẽ. Cậu cười, tụi nó đồn khơi khơi, chị hơi đâu mà tin. Nhưng má không chịu, đòi coi cái bóp của cậu. Cậu nhíu mày, đồ cá nhân người ta, chị coi là coi sao. Má thấy mình vừa bước hớ, đành thôi.

Má mừng ắt có nguyên do. Đứa em trai út nay đã tuổi bốn mươi, đầu lốm đốm vài chỗ bạc. Ông bà ngoại sống đến tuổi chín mươi chờ đứa con trai có vợ, nhưng không đợi hoài được, nên ông bà cũng quy tiên, để lại má với lời dặn dò, dù ra sao, con cũng ráng lo cho thằng Út yên bề gia thất. Má đau đáu nỗi niềm ông bà ngoại. Có đoạn, gặp ai quen má cũng sốt ruột làm mai cho cậu. Cũng có mấy mối gần xong thì cậu lạnh lùng quăng vào người ta gáo nước lạnh: “Tui đã có người thương!”. Má giận: “Người thương là ai đâu? Dắt về đây cho chị coi mắt liền tức khắc!”. Cậu lặng im không nói.

Cậu sang tuổi sáu mươi, má thấy mình đã đuối trong cuộc cưới xin cho thằng em đầu bạc.

***

Tôi nhớ hồi nhỏ, những mùa nước lớn, ba má giăng câu đêm khuya, gửi tôi ở nhà với cậu. Tối ngủ, cậu lấy cái bóp nhét dưới gối rồi thủ thỉ với tôi, nào con lớn, con nghe lời cậu, đừng thương ai hơn thương mình, khổ lắm nghen con. Cậu nói vậy nhiều lần, nên tôi nhớ sâu đậm. Có lần ngồi nhắc chuyện cũ, lôi lời cậu ra nói, cậu cười, nụ cười méo xẹo như đau một nỗi gì rất cũ, như tôi vô tình lấy cây củi khều lại vết thương lâu năm chưa bao giờ lành.

Có bữa, thấy cậu ngồi trên võng đong đưa, tay cầm cuốn tiểu thuyết “Tình yêu đâu phải là trò chơi” đọc say sưa, má nói, công chuyện quởn rồi, sao không làm gì đó đi. Không biết hiểu ý má không, mà cậu nói vói lại, chờ mấy thằng cháu có vợ có con đề huề rồi hãy tính. Tôi thì hiểu rằng má đang kêu cậu đi tìm lại người yêu năm xưa, coi có còn hy vọng nối lại mối tình…

Lần đầu đời bị thất tình, tôi ngồi ở bến sông khóc như trẻ nít. Cậu dỗ dành tôi bằng câu chuyện cũ. Chuyện rằng cậu và Người Ta có duyên mà không có nợ. Cậu tả rằng lần đầu gặp nhau trên đường tản cư tránh pháo, cậu nghe tim mình đập mạnh, hoa mắt, rần rần nóng như có cục lửa dâng lên trong cổ. Cậu gọi đó là cảm giác “sét đánh xuyên tim”, để rồi cậu yêu Người Ta trong cái cảnh chiến tranh ly loạn. Người Ta nói, khi nào đất nước bình yên mới nghĩ tới chuyện yên bề gia thất. Cậu tình nguyện lên đường đánh giặc. Mấy năm sau trở về, nuôi mộng gặp lại người xưa và cầu hôn. Nhưng Người Ta đã vì hoàn cảnh mà đi rất xa. Đến mấy năm sau được tin, thì giật mình nghe kể lại Người Ta đã yên bề!

Cậu lặng lẽ từ bỏ cuộc truy tìm và dặn lòng phải cố tìm được người thương. Nhưng mà làm sao cũng chập chờn bóng cũ. Cậu thấy không được rồi, nên quyết chí bỏ qua một bên. Cậu lấy em cháu ra làm con, nuôi nấng như con ruột. Tôi và những đứa em, lớn lên trong vòng tay của cậu. Cậu yêu thương chăm sóc từng đứa một, bao nhiêu tiền bạc dành dụm hầu như đều rót đầy cho chúng tôi qua sữa, thuốc men, sách vở… Hết thế hệ tôi thì đến con tôi.

Khi cậu bước qua tuổi 60, tôi dời nhà ra thị xã cách chỗ cậu một quãng xa, mười lăm cây số. Cậu mỗi ngày vẫn chạy xe ra thăm mấy đứa con tôi. Cậu nói, nhớ mấy đứa nhỏ tao không chịu nổi. Má tôi rầy: “Kêu có vợ có con đi không chịu.” Cậu cười, ló ra hàm răng có mấy chỗ trống huơ: “Con cháu đầy đàn vầy còn thêm chi nữa, chị!”.

Lúc cậu nói câu đó, cũng là lúc má đã từ bỏ hy vọng cưới vợ cho cậu ở tuổi thất thập. Tôi cũng thấy thôi rồi, còn chi mà chờ đám cưới cho cậu nữa. Nhưng một lần, cậu nói: “Cậu giao mấy đứa nhỏ, nhà cửa. Cậu đi công chuyện”. Vậy là cậu lủ khủ đồ đạc vào ba lô, nói xong hôm trước thì hôm sau lên đường.

Gần một tháng đi ta bà, cậu về, nằm vật ra phản, thở phào. Đêm, cậu nói lâu quá cậu cháu mình không ngủ chung. Vậy là tôi chui qua mùng cậu. Nghe cảm giác thân thuộc mấy mươi năm ùa về. Cậu kể, cậu đi tìm lại người xưa, khi nghe tin đồn rằng người xưa thật ra vẫn chưa chồng chưa con, vẫn sống vậy vì nghĩ rằng cậu đã chết trận. Cậu bắt đường dây liên lạc, Người Ta nghẹn ngào trong máy: “Mấy chục năm qua em phải chật vật mưu sinh cực khổ lắm anh biết không?”. Nghẹn ngào cậu hẹn Người Ta ở bến sông Trôi. Hôm đó cậu chuẩn bị sẵn tinh thần gặp lại người từng làm đau tim như sét đánh. Cậu nhuộm tóc, bận quần kaki, cố ra vẻ nhanh nhẹn như xưa. Túi chuẩn bị sẵn ít tiền, cậu nghĩ mớ này cũng đủ để Người Ta trang trải qua cơn khốn khó. Già rồi, thuốc men thì nhiều chứ ăn uống có bao nhiêu…

Ở một góc chờ người đến như đã hẹn, cậu cứ mở cái bóp xem hình người yêu với bao ý nghĩ về quãng đời cơ cực của Người Ta mà cậu nghe qua điện thoại, lòng dấy lên bao nhiêu là thương. Người Ta đến, có hai đứa cháu đưa đi, bước xuống xe hơi, tay trái đeo vàng lấp lánh, tay phải cầm cây gậy bốn chân. Người Ta và cậu gặp nhau, nhìn nhau không biết nói gì. Rồi Người Ta lại lên xe. Chiếc xe vù đi, tít tắt không còn thấy dấu vết nào.

Kể đến đó, cậu nói hết chuyện rồi và kết lại bằng một câu vô cùng mù mịt: “Bây có nghe câu hát không: Đời không như là mơ, nên đời thường giết chết mộng mơ”…

LÊ QUANG TRẠNG
Theo Báo Cần Thơ

30