Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tha hóa quyền lực chính trị
23:13 - 11/06/2018

(TGCT) Sinh thời, Bác Hồ quan tâm đến phòng, chống tha hóa quyền lực chính trị trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt sau khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Sự quan tâm đó thể hiện trên cả tư tưởng và thực tiễn hoạt động chính trị của Người, với mong muốn hạn chế tối đa các biểu hiện tha hóa quyền lực chính trị để cán bộ, đảng viên, Đảng và Nhà nước luôn xứng đáng là người lãnh đạo, và đầy tớ trung thành của nhân dân. Các quan điểm của Người về tha hóa quyền lực chính trị trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của hệ thống chính trị trong quá trình thực thi quyền lực chính trị, đấu tranh chống tình trạng tha hóa quyền lực chính trị đang diễn ra ngày càng phức tạp hiện nay.

1. Hồ Chí Minh quan niệm về tha hóa quyền lực chính trị

Hồ Chí Minh ít trực tiếp dùng thuật ngữ “quyền lực chính trị” cũng như “tha hóa quyền lực chính trị”. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa minh chứng cho sự thiếu quan tâm của Người đến vấn đề này, mà ngược lại, suốt cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của một nhà chính trị thiên tài trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị một cách đúng đắn, hợp lòng dân và quan tâm đặc biệt về ngăn chặn sự tha hóa quyền lực chính trị.

Hồ Chí Minh là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đã tiếp thu những nội dung cốt lõi của vấn đề quyền lực chính trị trong học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh không đưa ra khái niệm quyền lực chính trị theo nghĩa hàn lâm mà tập trung đề cập nhiều đến việc khẳng định chủ thể, mục đích, phương thức thực thi quyền lực chính trị. Người thường bàn tới quyền lực chính trị thông qua quyền lực nhà nước. Theo Người, quyền lực nhà nước, quyền lực trong Nhà nước ta không phải là quyền lực của cá nhân hay của bộ máy, mà là của toàn thể nhân dân. Cơ quan nhà nước các cấp chỉ là người chấp hành mệnh lệnh của quốc dân, chấp hành ý chí của nhân dân. Bộ máy chính quyền Nhà nước là do nhân dân bầu ra, vì vậy phải do nhân dân kiểm soát. Người khẳng định: “Có dân là có tất cả”, tin ở dân, dựa vào dân, tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân là nguyên tắc cơ bản trong chiến lược cách mạng của Người “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”(1).

Tuy không đưa ra khái niệm cụ thể, nhưng từ di sản của Hồ Chí Minh bàn đến vấn đề này, bước đầu có thể nêu lên khái niệm như sau: “Tha hóa quyền lực chính trị là quá trình lạm dụng, biến quyền lực công, quyền lực của nhân dân thành ý chí, quyền lực của cá nhân hoặc nhóm người với mục đích phục vụ cho cá nhân hoặc nhóm nắm quyền lực”.

2. Nguyên nhân và hậu quả của tha hóa quyền lực chính trị

* Về nguyên nhân

Ngay từ trước khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đã luôn cảnh báo về sự suy thoái của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân khi giành được chính quyền và nắm trong tay quyền lực Nhà nước:Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(2). Điều này cho thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tha hóa quyền lực chính trị mà Hồ Chí Minh đề cập là chủ nghĩa cá nhân. Nếu mắc phải bệnh cá nhân chủ nghĩa thì “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết”, ngại gian khổ, mất đoàn kết, vô kỷ luật, sa vào hủ hóa dẫn đến “không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là “vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ”. Căn nguyên làm nảy sinh và nuôi dưỡng chủ nghĩa cá nhân là bản chất phản động của xã hội phong kiến, thuộc địa nửa phong kiến tồn tại lâu dài trên đất nước ta. Do vậy, chủ nghĩa cá nhân là tiêu chí tiên quyết thể hiện bản chất của xã hội cũ trái ngược với chủ nghĩa tập thể vốn là nền tảng của việc xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa.

Tha hóa quyền lực chính trị là kết quả của sự tha hóa về đạo đức cách mạng. Quyền lực chính trị chân chính là quyền lực được giành, giữ và thực thi thuận theo lòng dân, lấy nhân dân làm đối tượng, mục đích để hướng tới phục vụ. Đó cũng chính là tiêu chuẩn của đạo đức cách mạng. Nhân dân là động lực lãnh đạo của Đảng. Có nhân dân, Đảng mới có quyền lãnh đạo. Mục đích của Đảng trong xây dựng và chỉnh đốn là để được nhân dân ủng hộ. Tuy nhiên, khi có trong tay quyền lực, người cán bộ, đảng viên dễ quên đi phục vụ nhân dân như một tiêu chuẩn quan trọng của đạo đức cách mạng, như mục tiêu hướng đến của thực thi quyền lực.

Từ đó, người cán bộ, đảng viên phải rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Vì “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”(3).

* Hậu quả

Một là, hỏng cán bộ, mất cán bộ - cái gốc của mọi công việc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Người khẳng định cán bộ là gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về tư tưởng chính trị, vừa hồng, vừa chuyên không chỉ dừng lại ở mong mỏi mà còn chiếm vị trí rất quan trọng trong lý luận và thực tiễn hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh.

Hai là, mất niềm tin của nhân dân - chủ thể của quyền lực chính trị, nền tảng của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân… Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”(4). Đảng ta ra đời, tồn tại, phát triển, vững mạnh đều liên quan mật thiết đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái.

Thực tiễn đòi hỏi Đảng cần phải chống cho được sự tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đổi mới mạnh mẽ phương thức cầm quyền của Đảng. Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Vì vậy, phải xác định cầm quyền do dân và vì dân. Đảng phải củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng phải nhận thức được những chỗ mạnh và chỗ yếu của mình, mạnh thì phát huy, yếu thì vạch rõ nguyên nhân, tìm mọi cách khắc phục, tuyệt đối không được giấu giếm khuyết điểm. Bởi vì một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Theo tinh thần Hồ Chí Minh, Đảng phải “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(5).

Theo Hồ Chí Minh, Đảng mạnh hay yếu là ở dân, Đảng anh hùng vì có nhân dân anh hùng. Đảng có mạnh thì mới đủ uy tín và khả năng thu hút, tập hợp nhân dân làm cách mạng. Muốn mạnh, Đảng phải bao gồm những phần tử ưu tú nhất, giác ngộ nhất, có kỷ luật nhất và có tổ chức chặt chẽ của giai cấp và nhân dân; nêu cao đạo đức cách mạng; có năng lực trí tuệ; biết tổ chức, giáo dục, học hỏi, đoàn kết nhân dân. Trong mối quan hệ với nhân dân nảy sinh yêu cầu đòi hỏi Đảng phải “mạnh”, phải vươn lên những giá trị đạo đức, văn minh để nhân dân tin theo và ủng hộ, giúp đỡ.

Ba là, nguy cơ sụp đổ chế độ chính trị. Việc kiểm soát quyền lực trước tiên là để bảo đảm cho quyền lực luôn thuộc về đúng chủ nhân của nó, tức là thuộc về nhân dân, được sử dụng đúng mục đích, không bị lợi dụng,lạm quyền. Khi quyền lực bị lạm dụng thì tất yếu sẽ tha hóa bộ máy cầm quyền và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tha hóa đạo đức xã hội.

Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể tránh. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.

3. Giải pháp phòng, chống tha hóa quyền lực chính trị

Quyền lực chính trị liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều tổ chức và con người. Phòng, chống tha hóa quyền lực chính trị đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp như:

Một là, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tha hóa quyền lực chính trị là sư suy thoái đạo đức cách mạng, sa vào chủ nghĩa cá nhân của cán bộ.

Do vậy, giáo dục đạo đức cách mạng sao cho người cán bộ, đảng viên là người cách mạng chân chính, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân, là giải pháp quan trọng trước tiên. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung tư tưởng đạo đức cách mạng tập trung, nổi bật ở luận điểm: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn quan tâm chăm lo xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; luôn coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng, Người ví đạo đức cách mạng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Theo Người, điều kiện tiên quyết để người cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ là phải có đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(6).

Vì vậy, “Những người Cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”(7)“Phải nhớ mình là công bộc của dân, ra làm việc là để gánh vác việc chung của dân, mọi chủ trương, chính sách phải lấy lợi ích của Đảng, của dân làm gốc” vì “Đảng ta là Đảng chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, ngoài ra không còn lợi ích nào khác”(8).

Hai là, kiểm soát quyền lực.

Tha hóa quyền lực sẽ khó diễn ra trong một cơ chế mà quyền lực được kiểm soát tốt. Hồ Chí Minh biết điều đó và chủ trương vừa xây dựng sự kiểm soát nội bộ trong hệ thống chính trị, vừa tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ kiểm soát việc thực thi quyền lực.

Kiểm soát quyền lực trong nội bộ hệ thống chính trị diễn ra dưới nhiều hình thức. Bên cạnh các cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý, kỷ luật, thực thi pháp luật thì việc kiểm soát quyền lực từ chỗ phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình của mỗi cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh rất xem trọng.

Trong đánh giá tư cách của một người, một Đảng, Hồ Chí Minh thường xét qua ba mối quan hệ: Với mình, với người, với công việc. Tự phê bình là tự xét chính mình, phê bình là xét về người, cùng hướng đến thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ Đảng giao. Mục đích của tự phê bình và phê bình là “xét” ưu điểm, khuyết điểm của chính mình và của người khác để làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Tự phê bình và phê bình là tự soi xét lại mình và nhìn nhận người khác để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ. Nó góp phần to lớn tăng cường khối đoàn kết nội bộ Đảng: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Đoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”(9). Tự phê bình và phê bình là thuốc chữa bệnh, là vũ khí trừ kẻ địch bên trong. Chủ tịch Hồ Chí Minh, nói: Thang thuốc hay nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình. “Chúng ta phải ráo riết tự phê bình và phê bình để giúp nhau chữa hết những bệnh ấy. Có thế thì Đảng mới chóng phát triển”(10).

Muốn tự phê bình và phê bình hiệu quả, Hồ Chí Minh yêu cầu phải có phương pháp và thái độ cho đúng. Tiến hành tự phê bình và phê bình phải thường xuyên như rửa mặt hàng ngày. Mỗi ngày mỗi “rửa” khuyết điểm, “được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh tật mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”; phải thành khẩn, không được “giấu bệnh, sợ thuốc”; phải trung thực, không “đặt điều”, “không thêm bớt”; phải kiên quyết, “ráo riết”, không nể nang; “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”; tự phê bình và phê bình “không phải để công kích, để nói xấu”, “chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”.

Ba là, nghiêm trị những biểu hiện tha hóa quyền lực.

Điều cần thiết đối với một đảng tiền phong trong lãnh đạo là xác định một cách rõ ràng, dứt khoát và nghiêm chỉnh thực hiện kỷ luật. Hồ Chí Minh xem xây dựng, rèn luyện và củng cố kỷ luật là một trong những nội dung quan trọng của xây dựng hệ thống chính trị, là căn cứ để khép cán bộ, đảng viên vào khuôn phép, tránh rơi vào tình trạng lung tung, bừa bãi. Quy định đó là Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước ban hành điều chỉnh hành vi không được làm của cán bộ, đảng viên, trong đó có tha hóa quyền lực. Chính vì tha hóa quyền lực chính trị dẫn đến hậu quả vô cùng nguy hiểm nên đối với những cán bộ vi phạm cần phải bị nghiêm trị. Khi phát hiện vi phạm phải xử lý kiên quyết, minh bạch, bất kể là đối tượng nào. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc xử lý một số cán bộ lãnh đạo nắm quyền ở các cơ quan Nhà nước lạm dụng quyền lực mà phạm phải những lỗi lầm. Người nhắc nhở: “Những lỗi lầm chính là: (1) Trái phép, (2) Cậy thế, (3) Hủ hoá, (4) Tư túng, (5) Chia rẽ, (6) Kiêu ngạo... Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm, thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa”(11).

Tóm lại, Hồ Chí Minh đã sớm ý thức vấn đề quyền lực chính trị ngay từ những giai đoạn đầu của quá trình hoạt động cách mạng. Sự quan tâm ấy được tiếp nối và tập trung nhiều nhất khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền, người cán bộ, đảng viên trở thành người nắm quyền. Những biểu hiện tha hóa quyền lực trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay đang rất phức tạp. Nó đang hàng ngày, hàng giờ tạo nên “cái chết từ bên trong” đối với hệ thống chính trị và chế độ chính trị. Cần có những giải pháp đúng đắn, quyết liệt để ngăn chặn, loại trừ. Trong cuộc đấu tranh đó, các quan điểm của Hồ Chí Minh về tha hóa quyền lực chính trị là sự chỉ dẫn khoa học, soi đường, giáo dục đạo đức cách mạng để cán bộ, đảng viên sử dụng quyền lực chính trị một cách đúng đắn.

                                                                                                                    Ths. Lê Chí Phương (Đảng ủy các Khu CX&CN)

 

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.215, tr.547.

(3) Trích bài “Phải tẩy sạch quan liêu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Sự Thật số 140 ra ngày 2/9/1950 ký tên XYZ.

(4), (8) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 8, tr.276, tr.766.

(5), (6), (9), (10) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 5, tr.297, tr.252-253, tr.387, tr.267.

(7) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 10, tr.19.

(11) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 4, tr.57-58.

81