Kỷ niệm 200 năm, Ngày sinh Mác (05/5/1818 – 05/5/2018): Giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác
11:01 - 05/05/2018

(TGCT) Cách đây 200 năm, vào ngày 05/5/1818 tại thành phố Trier của nước Đức - nhà khoa học, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, người thầy của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, một vĩ nhân của nhân loại: Karl Heinrich Marx (Mác) đã ra đời. Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã sống mãi trong trái tim, khối óc và trong cả tình cảm thiêng liêng nhất của hàng triệu con người yêu tự do, yêu hòa bình, công lý và chính nghĩa trên thế giới này.

Khi nghiên cứu những công trình khoa học của Mác có thể khẳng định giá trị lớn lao và sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác chính là ở chỗ học thuyết này đã chỉ ra quy luật vận động khách quan của xã hội loài người, chỉ ra những nhiệm vụ lịch sử cần giải quyết để từng bước giải phóng các giai cấp lao động và các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người và xã hội loài người, xây dựng một xã hội mà trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự  do của  tất cả  mọi  người. Mặt khác, học thuyết của Mác còn thể hiện ở bản chất khoa học và cách mạng ở sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa tính đảng với tính khoa học làm cho Chủ nghĩa Mác luôn là học thuyết mở, có khả năng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại, luôn là cơ sở, nền tảng của nhận thức khoa học, là kim chỉ nam cho mọi hành động của những người cộng sản và giai cấp công nhân quốc tế.

Một số người phê phán chủ nghĩa Mác, tách rời hoặc đối lập các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác với những người phát triển về sau, muốn xoá bỏ toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa Mác trong suốt hơn một thế kỷ qua để chứng minh chủ nghĩa Mác là giáo điều, là xa rời thực tiễn,… để rồi thấy không phù hợp, đòi vứt bỏ lý luận của Mác. Một trong những biểu hiện đó chính là họ dùng luận điệu xuyên tạc và cho rằng chủ nghĩa Mác không còn thích hợp trong thời đại toàn cầu hoá, thời đại mà chủ nghĩa tư bản (CNTB) chiếm địa vị chủ đạo trong quá trình toàn cầu hoá. Song, trên thực tế đã chứng minh, chủ nghĩa Mác vẫn là công cụ lý luận để chúng ta nhận thức những biến động mới của CNTB, những hạn chế, mâu thuẫn vốn có trong lòng CNTB và có thể nói nó tồn tại song song cùng CNTB - bản chất của CNTB. Mặc dù không có những dự báo cụ thể về những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, song Mác đã bàn đến vấn đề cốt lõi, đó chính là mâu thuẫn nội tại của CNTB: mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hoá lực lượng sản xuất ngày càng cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Và sau khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ ở phương Tây, nhiều học giả trên thế giới đã phải tìm đọc lại bộ “Tư bản” của Mác. Vậy sự không phù hợp đó không phải là lỗi của lý luận, mà chính là do thiếu tính thực tiễn, tính khoa học của chủ thể hành động. Điều này có thể họ (những người phê phán chủ nghĩa Mác) không hiểu hoặc cố tình không hiểu nhằm xuyên tạc giá trị của chủ nghĩa Mác.

Một số người khác thì lại đặt vấn đề nếu chủ nghĩa Mác có giá trị, vậy phải liệt kê ra một danh mục các nguyên lý của chủ nghĩa Mác có tính phổ biến, tuyệt đối đúng trong mọi không gian, mọi thời gian, áp dụng được vào mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh, nếu không làm được như vậy thì rõ ràng chủ nghĩa Mác không có giá trị. Với tính chất là một học thuyết khoa học, những người khai sinh ra các học thuyết chưa bao giờ muốn và chưa có bất cứ một mệnh đề phán đoán nào để biến các luận điểm trong học thuyết của mình thành giáo điều, cứng nhắc. Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Đức “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” xuất bản năm 1872, C.Mác và Ph.Ăng-ghen viết: “Chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời” (C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 18, NXB Chính trị Quốc gia, HN 2004, tr.128). Cần hiểu cho đúng về học thuyết mà các nhà kinh điển đưa ra không phải là một loại giáo lý tôn giáo mà chính là phương pháp. Và có thể khẳng định, từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác không phải là một loại khoa học thực chứng hay là một hệ thống tri thức cố định, mà là một hệ thống lý luận mang tính phê phán đối với các vấn đề trọng yếu của thời đại. Đây chính là nền tảng cho tính sáng tạo và tính thực tiễn của chủ nghĩa Mác. Do đó, người mác xít chân chính bao giờ cũng gắn chặt lý luận với thực tiễn, dùng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung để phân tích những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là một công thức đơn giản để áp dụng trực tiếp mà nó mang tinh thần phê phán, sáng tạo, thực tiễn, liên tục phát triển. Và những nguyên lý này không chỉ đúng trong thế kỷ XIX hay thế kỷ XX mà còn đúng trong thế kỷ XXI và về sau nữa, vì đó là những quy luật khách quan trong xã hội có giai cấp.

Đối với Việt Nam, kể từ ngày lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã vận dụng sáng tạo và truyền bá học thuyết ấy vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Dưới ngọn cờ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Điều đó một lần nữa đã khẳng định chân lý: Ngày nay học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin; là “cẩm nang thần kỳ” để dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Đó là câu trả lời đầy đủ nhất, ngắn gọn nhất là: tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, tư tưởng kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Minh Triết

15