Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945: Bản Tuyên ngôn bất hủ của dân tộc Việt Nam
20:42 - 04/09/2017

(TGCT) Tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo quân dân ta tiến hành Tổng khởi nghĩa và giành được chính quyền trên phạm vi cả nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta đã thoát khỏi thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Với thắng lợi này, vào ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bản Tuyên ngôn độc lập được Bác soạn thảo tại Căn nhà số 48 phố Hàng Ngang trong những ngày Cách mạng Tháng Tám đang diễn ra sôi sục. Bản Tuyên ngôn ngắn gọn nhưng chứa đựng tất cả chân lý, tinh thần, tình cảm, mong muốn của dân tộc Việt Nam về một nền tự do, độc lập. 

Từ sáng sớm ngày 02/9, hàng chục vạn người đứng thành hàng ngũ, cờ hoa rực rỡ, hân hoan phấn khởi kéo về Quảng trường Ba Đình chờ đón giờ khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng lúc đó, nhiều cuộc mít tinh lớn cũng được tổ chức tại Huế, Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước. Muôn triệu trái tim đều hồi hộp chờ đợi hướng về Hà Nội.

Đúng 14 giờ, Hồ Chủ tịch và các vị trong Chính phủ lâm thời ra lễ đài. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn, cả biển người im lặng lắng nghe:  Mở đầu bản Tuyên ngôn, Bác đã trích dẫn lời từ hai bản Tuyên ngôn Ðộc lập của nước Mỹ (1776) và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp (1791), để từ đây Người thay mặt dân tộc Việt Nam khẳng định một chân lý: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc..."(1).  Từ trích dẫn trong hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc Việt Nam là bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại, là cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người, giải phóng các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Chính lời trích dẫn đó cũng đã cho thấy sự vận dụng một cách hợp lý của Bác vào thực tế cách mạng Việt Nam để thể hiện quan điểm riêng của mình về quyền con người và trên thực tế, tinh thần ấy của Bác đã được Đảng và Nhà nước ta thể hiện và khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước đến nay.

Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện pháp lý vừa để công bố đồng thời khẳng định với thế giới về sự ra đời của một nước Việt Nam độc lập, dân chủ. Khẳng định quyền được hưởng tự do, quyền dân tộc tự quyết của dân tộc Việt Nam: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(2).

 Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, chứa đựng những ý nghĩa và tầm vóc lớn lao của dân tộc và quốc tế nên đã trở thành ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9 là bản Tuyên ngôn thứ ba của dân tộc ta, là văn kiện lịch sử tiếp nối truyền thống anh hùng bất khuất của cha ông từ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt đến Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Với tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9, nhân dân Việt Nam đã kiên cường đấu tranh chống lại những kẻ thù xâm lược to lớn từ thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ để làm nên những thắng lợi vẻ vang cho dân tộc từ chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (1954) và 21 năm sau là thắng lợi của công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975), thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

 Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, đã chứng minh tính đúng đắn về con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tìm ra và khẳng định từ năm 1920. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám kết thúc với bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 còn có ý nghĩa quốc tế to lớn. Vì bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ trực tiếp tạo ra chỗ dựa tin cậy cho cách mạng của nhân dân Lào và Campuchia và góp phần làm thay đổi cục diện chính trị ở Đông Nam Á. Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á đã cổ vũ mạnh mẽ cho tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên thế giới. Nước Việt Nam mới ra đời, là lá cờ đầu cho phong trào đấu tranh giành hòa bình, độc lập cho các nước phương đông.

Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo là cả một quá trình tư duy khoa học của Người. Qua hơn 1.000 từ với những nội dung Người thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập đã cho thấy quan điểm rõ ràng, nhất quán của Người, càng làm cho chúng ta phải học tập và noi theo tư tưởng của Bác. Với tinh thần cách mạng bất diệt của Tuyên ngôn độc lập, 72 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi đấu tranh giải phóng dân tộc và thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện xây dựng đất nước thắng lợi theo mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

  Phương Ngọc

(1) (2) Nguyễn Tiến Dũng, Lương Thị Cảnh: Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và ý nghĩa thời đại, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2010.

 
 
 
   

 

 

21